Các nghiên cứu dinh dưỡng cộng đồng

Bất chấp các nỗ lực không ngừng của chính phủ, các tổ chức quốc tế và trong nước để cải thiện tình hình dinh dưỡng của dân số Việt Nam trong hai thập kỉ qua, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em, nhóm đối tượng chiếm đến 35% dân số, vẫn dừng ở mức cao. Theo UNICEF, 25% trẻ em dưới 5 tuổi tại Việt Nam hiện ở trong tình trạng suy dinh dưỡng. Các nguyên nhân chủ yếu là do chế độ dinh dưỡng nghèo nàn, chỉ 19% trẻ được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 4 tháng đầu. Suy dinh dưỡng đưa đến hậu quả tiêu cực và lâu dài lên sức khỏe và sự phát triển của trẻ, như chậm lớn, chậm phát triển vận động, nhận thức, hành vi, sức đề kháng yếu, dễ bị bệnh tật và tử vong.


Từ khi thành lập, RTCCD đã cam kết cống hiến cho các hoạt động phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em tại Việt Nam. Từ năm 1994, RTCCD hỗ trợ triển khai chương trình dinh dưỡng và xóa đói giảm nghèo dựa vào cộng đồng do tổ chức Cứu trợ trẻ em Mỹ thực hiện, tham gia đánh giá các dự án dinh dưỡng của tổ chức Cứu trợ trẻ em Nhật Bản, Mỹ và Plan International. RTCCD còn tham gia triển khai nghiên cứu tìm hiểu các bất hợp lý và thiếu hụt trong trong khẩu phần ăn của trẻ nhỏ và phương pháp nuôi trẻ nhỏ dưới 2 tuổi, cũng như các yếu tố xã hội, kinh tế, tập quán có ảnh hưởng đến những vấn đề này. RTCCD là cơ quan tiên phong áp dụng một loạt các công cụ được thế giới khuyến cáo trong các nghiên cứu dinh dưỡng của mình, như điều tra tình trạng kinh tế xã hội, khẩu phần ăn 24 giờ qua, khảo sát thị trường, quan sát sự tương tác giữa mẹ và con trong quá trình cho trẻ ăn, phỏng vấn bán cấu trúc với người mẹ, người chăm sóc trẻ, chính quyền địa phương và hướng dẫn thực hành nấu ăn theo mùa. Các kĩ thuật này đã được áp dụng trong 2 cuộc đánh giá tại Phú Thọ (kéo dài 18 tháng) và Quảng Trị (nghiên cứu cắt ngang).

 

Gần đây, RTCCD đã xuất bản bài báo nghiên cứu phân tích các yếu tố đóng góp vào tình hình suy dinh dưỡng của trẻ em Việt Nam và sự thay đổi của các yếu tố đó theo thời gian. Bài báo đã được trình bày tại hội nghị do Viện Dinh dưỡng Quốc gia tổ chức, là diễn đàn nơi các nghiên cứu viên và chuyên gia dinh dưỡng trên toàn quốc cùng tập hợp và thảo luận những quan tâm chung về dinh dưỡng cộng đồng. Từ khung lý thuyết được xây dựng và rút kinh nghiệm từ các nghiên cứu trước, năm 2007, RTCCD phát triển mô hình can thiệp thí điểm về thay đổi hành vi và thói quen dinh dưỡng cho nữ vị thành niên và các cặp vợ chồng mới cưới, thể hiện qua truyền thông thay đổi hành vi, hướng dẫn cách chọn lựa thực phẩm an toàn, tăng cường dinh dưỡng cho bữa ăn hàng ngày bằng các sản phẩm sẵn có tại địa phương.

 

Cụ thể, RTCCD đã tham gia một loạt các chương trình nhằm mục tiêu cải thiện dinh dưỡng cộng đồng và suy dinh dưỡng trẻ em trong những năm gần đây, bao gồm:

 

Nghiên cứu ý kiến lãnh đạo về các chính sách nuôi con bằng sữa mẹ tại Việt Nam. 2010

Trung tâm hiện đang phối hợp với Dự án Alive and Thrive do Học viện Phát triển Giáo dục Hoa Kỳ (AED) quản lý, tiến hành nghiên cứu “Lắng nghe ý kiến các nhà lãnh đạo quản lý về việc xây dựng và thực hiện các chính sách hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ và dinh dưỡng cho trẻ dưới 2 tuổi tại Việt Nam” (đã được Bộ Y tế phê duyệt theo Quyết định số 884/BYT-BMTE, ngày 09/02/2010).

 

Alive and Thrive (Dự án Nuôi dưỡng và Phát triển) là một sáng kiến hướng tới giảm thiểu tình trạng suy dinh dưỡng và tử vong trẻ em do thực hành chăm sóc dinh dưỡng không phù hợp trong những giai đoạn đầu đời. Dự án tập trung thúc đẩy các chính sách và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ và cho ăn bổ sung đúng cách trên diện rộng thông qua 4 mục tiêu chính:

(1)     xây dựng mô hình;

(2)     hỗ trợ ngân sách để thực hiện mô hình;

(3)     vận động chính sách; và

(4)     theo dõi đánh giá tác động của mô hình.

 

Bốn tỉnh thành phố tại Việt Nam được lựa chọn để thực hiện hoạt động can thiệp thí điểm là Hải Phòng, Quảng Trị, Quảng Ngãi và TP Hồ Chí Minh.

 

Đây là hoạt động nghiên cứu định hướng chính sách và xây dựng mô hình. Thành phần tham gia phỏng vấn bao gồm lãnh đạo y tế và các nhà hoạch định chính sách cấp quốc gia và cấp tỉnh, các cơ quan thông tin đại chúng, và các ban ngành đoàn thể liên quan. Các cuộc phỏng vấn sẽ tiến hành trong 4 tháng đầu năm 2010.   

 

Ngộ độc trẻ em: Nguyên nhân và biện pháp dự phòng. 2006-2007

Tại Việt Nam, ngộ độc cấp được coi là một trong những tai nạn thương tích phổ biến nhất ở trẻ em. Các vụ ngộ độc tập thể ở trẻ em và người lớn xảy ra với mật độ ngày càng thường xuyên hơn đã làm dấy lên làn sóng lo ngại về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm trong công chúng. Mỗi ngày, tại các bệnh viện trên toàn quốc có rất nhiều bệnh nhân bị ngộ độc trong đó có cả trẻ em nhập viện để điều trị. Tuy nhiên, cho đến nay phạm vi của ngộ độc cũng như các nguyên nhân phổ biến gây ra ngộ độc trẻ em ở Việt Nam vẫn chưa được xác định. Do đó, RTCCD phối hợp với UNICEF và Cục Y tế Dự phòng Việt Nam triển khai nghiên cứu nhằm có thêm hiểu biết và thông tin về ngộ độc trẻ em tại Việt Nam, các nguyên nhân gây ngộ độc và biện pháp phòng trừ.

 

Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ thống thống kê số liệu báo cáo thường xuyên mới chỉ phát hiện 48% trường hợp ngộ độc trẻ em tại cộng đồng. Lý do cho sự chênh lệch này là số liệu từ báo cáo thống kê y tế tỉnh chỉ phản ánh số bệnh nhân nội trú, không ghi chép lại các trường hợp trẻ ngộ độc tại nhà hoặc được đưa đến điều trị tại phòng khám tư nhân. Ngộ độc xẩy ra với trẻ dưới 2 tuổi chủ yếu tại nhà do cha mẹ hoặc người trông trẻ vô tình gây ngộ độc cho trẻ. Tình huống ngộ độc với trẻ 2-5 tuổi xảy ra ở phạm vi rộng hơn (tại nhà, tại hàng xóm hoặc nhà trông trẻ) do cha mẹ, người trông trẻ vô tình gây ngộ độc cho trẻ hay trẻ vô tình bị ngộ độc. Hoàn cảnh xảy ra ngộ độc với nhóm trẻ trên 5 tuổi phức tạp hơn: trẻ bị ngộ độc do vô tình hay cố ý tại nhà, trường học, quán ăn, đường phố…Theo nhận định từ cộng đồng, ngộ độc trẻ em phổ biến theo thứ tự (từ cao đến thấp) bao gồm ngộ độc thực phẩm, ngộ độc do hoá chất, ngộ độc do thuốc hoặc sinh phẩm, và cuối cùng là ngộ độc do động vật có nọc độc cắn.

 

Từ các kết quả có được, nghiên cứu đưa ra khuyến cáo củng cố hệ thống báo cáo thông tin theo hướng nâng cao khả năng giám sát và kiểm soát ngộ độc trẻ em tại cộng đồng. Đồng thời đưa vấn đề phòng chống ngộ độc trẻ em vào chương trình hành động cho y tế cộng đồng. Xem tóm tắt báo cáo nghiên cứu bản tiếng Anhtiếng Việt.

 

Các kết quả nghiên cứu và khuyến nghị đã được đưa ra thảo luận tại Hội nghị y tế các nước tiểu vùng sông Mekong tổ chức tại Vientiane, Lào tháng 1/2010.

 

Đánh giá tình trạng và nguyên nhân thiếu máu của phụ nữ có thai và trẻ em 6-30 tháng tuổi tại hai huyện Dakrong và Hướng Hoá, Quảng Trị. 2003

Nghiên cứu được thực hiện tại tất cả các xã ở 2 huyện Dakrong và Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị nhằm mục tiêu đánh giá thực trạng thiếu máu và dinh dưỡng của phụ nữ có thai và trẻ em 6-30 tháng tuổi ở một vùng miền núi, kinh tế chậm phát triển, đại đa số dân tộc thiếu sổ và đang sinh sống trong vùng có sốt rét lưu hành tại Việt Nam. Phương pháp thực hiện là điều tra cắt ngang với cỡ mẫu đại diện cho đối tượng trẻ em 6-30 tháng và mẫu điều tra toàn bộ cho đối tượng phụ nữ có thai ở 2 huyện tại thời điểm nghiên cứu. Nghiên cứu tiến hành đo lường mức độ thiếu máu bằng máy HemoCue, xác định tình trạng sốt rét qua đọc tiêu bản soi tươi tìm kí sinh trùng trong máu, tình trang nhiễm giun qua xét nghiệm phân tìm trứng giun móc, đo chiều cao, cân nặng xác định các chỉ số dinh dưỡng, áp dụng bảng hỏi khẩu phần ăn 24 giờ qua và phỏng vấn các yếu tố kinh tế xã hội và dịch tễ học.

 

Kết quả nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ có thai là 50%, thiếu máu nặng là 3.5%. Nồng độ hemoglobin trung bình 107.6 g/L sau khi đã điều chỉnh với mức độ hút thuốc lá và tuổi thai. Các yếu tố có lien quan đến thiếu máu bao gồm mang thai ở 3 tháng cuối, sinh trên 4 lần, có vấn đề về sức khoẻ trong 12 tháng qua, số đo vòng cánh tay thấp và chế độ ăn nghèo sắt. Chế độ ăn hàng ngày của phụ nữ chứa ít sắt và chủ yếu là lúa gạo (97%), nghèo năng lượng và vi chất. Tỷ lệ nhiễm giun móc ở phụ nữ rất cao (69%). Với trẻ em, 44.3% trẻ em 6-30 tháng bị thiếu máu, đứng ở mức cao theo xếp loại của Tổ chức Y tế Thế giới. Trẻ bị suy dinh dưỡng, ăn dặm sớm trước 6 tháng, sinh ra từ các gia đình nghèo, có mẹ học vấn thấp có nguy cơ bị thiếu máu cao hơn cả. Giống như ở phụ nữ có thai, chế độ ăn nghèo sắt và vi chất là nguyên nhân chính gây ra tình trạng thiếu máu ở trẻ nhỏ. Xem tóm tắt báo cáo nghiên cứu bản tiếng Việt.

 

Cải thiện nuôi con bằng sữa mẹ và ăn dặm sử dụng các điển hình tích cực tại Việt Nam. 1999-2001

Các trường hợp điển hình tích cực, thường thấy tại các địa phương hạn chế về nguồn lực, là những cá nhân và gia đình có hoàn cảnh kinh tế và mức sống ở mức nghèo hơn hoặc tương tự như những hộ gia đình khác, nhưng áp dụng các cách thức sáng tạo và hữu ích trong cuộc sống hàng ngày và kết quả là tình hình sức khoẻ của các thành viên trong gia đình đó tốt hơn của những người khác. Các hành vi điển hình tích cực phải đạt tiêu chí dễ áp dụng, chi phí hợp lý, được chấp nhận rộng rãi và có khả năng duy trì bền vững trên các cộng đồng có điều kiện tương tự. Được sự hỗ trợ tài chính của USAID (dự án LINKAGES), RTCCD đã phối hợp với tổ chức Cứu trợ trẻ em Mỹ và đại học Emory tiến hành nghiên cứu đánh giá tiến trình cải thiện nuôi con bằng sữa mẹ và ăn dặm sử dụng các điển hình tích cực tại Việt Nam, thuộc Chương trình dinh dưỡng và tăng cường năng lực cộng đồng (CENP) tại các tỉnh miền bắc. Cuộc đánh giá được thực hiện trên diện rộng nhằm tìm hiểu về các mô hình điển hình tích cực, lý do hình thành và cách thức hoạt động. Cuộc đánh giá áp dụng phương pháp theo dõi dài hạn, kéo dài 3 năm từ 1999-2001. Dựa vào kết quả đánh giá, chương trình CENP đã điều chỉnh các hoạt động của mình cho phù hợp với tình hình và đưa lại kết quả tốt hơn. Cũng từ kết quả nghiên cứu này, 12 bài báo đã được viết và xuất bản trên bản tin Food and Nutrition Bulletin, tập 23, số 4, tháng 12/2002. Hiện nay, chương trình CENP đã thay đổi rất nhiều so với mô hình ban đầu, với hiệu quả tương tự nhưng sử dụng ít kinh phí và thời gian hơn.

 

Chương trình dinh dưỡng và xoá đói giảm nghèo. 2000

Vào những năm 90, hầu hết các chương trình y tế do Plan International thực hiện đều hướng tới ưu tiên giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng tại Việt Nam. Với nhiều kinh nghiệm thực hiện các nghiên cứu dinh dưỡng và hệ thống y tế, RTCCD đã triển khai cuộc đánh giá cuối kì dự án giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng tại tỉnh Quảng Trị sử dụng các điển hình tích cực. Cuộc đánh giá tiến hành từ tháng 6-9/2000.

 

Chương trình dinh dưỡng lồng ghép cho trẻ em tại tỉnh Thanh Hoá. 1998

Trong năm 1998, Tổ chức cứu trợ trẻ em Nhật Bản đã hợp tác với Uỷ ban Nhân dân huyện Vĩnh Lộc triển khai chương trình dinh dưỡng lồng ghép cho trẻ em tại 5 xã của tỉnh Thanh Hoá. RTCCD là trung tâm triển khai điều tra cơ bản và đánh giá cuối dự án cho chương trình này.